Đọc đoạn trích trong SGK và thực hiện các yêu cầu nêu ở dưới:
Sở Khanh là kẻ bẩn thỉu, bần tiện.
Người viết đã tổng hợp lại bằng cách khái quát bản chất của Sở Khanh: Nó là cái mức cao nhất của tình hình đồi bãi trong xã hội này.
- Nghị luận xã hội:
- Nghị luận văn học:
5. Phân tích là cách chia nhỏ đối tượng thành nhiều yếu tố bộ phận để đi sâu xem xét một cách toàn diện về nội dung, hình thức của đối tượng. Những yêu cầu: chia tách yếu tố theo tiêu chí nhất định, đi sâu vào phân tích từng yếu tố…
- Đoạn trích ở mục (I): Phân tích theo quan hệ nội bộ của đối tượng: bản chất bẩn thỉu của Sở Khanh.
- Đoạn (1):
- Đoạn (2): Phân tích theo quan hệ nguyên nhân kết quả: Bùng nổ dân số và hậu quả của nó.
- Đoạn trích mục (I): Phân tích những biểu hiện bản chất bẩn thỉu của Sở Khanh mà tổng hợp lại đó là bức tranh về nhà chứa, tính đồi bại trong xã hội đương thời.
- Đoạn 2: Phân tích luôn gắn liền với khái quát tổng hợp: sức mạnh của đồng tiền, thái độ, cách hành xử của tầng lớp xã hội đối với đồng tiền và thái độ của Nguyễn Du đối với xã hội đó.
- Đoạn 3: Phân tích bùng nổ dân số ảnh hưởng đến nhiều mặt của cuộc sống con người. Từ đó đưa ra kết luận: Dân số càng tăng nhanh thì chất lượng cuộc sống của cộng đồng, gia đình, cá nhân càng giảm.
Tổng kết:
- Mục đích của phân tích là làm rõ đặc điểm về nội dung, hình thức, cấu trúc và các mối quan hệ bên trong, bên ngoài của đối tượng (sự vật, hiện tượng).
- Khi phân tích, cần chia, tách đối tượng thành các yếu tố theo những tiêu chí, quan hệ nhất định (quan hệ giữa các yếu tố tạo nên đối tượng, quan hệ nhân quả, quan hệ giữa đối tượng với các đối tượng liên quan, quan hệ giữa người phân tích với đối tượng phân tích…)
- Phân tích cần đi sâu vào từng yếu tố, từng khía cạnh, song cần đặc biệt lưu ý đến quan hệ giữa chúng với nhau trong một chỉnh thể toàn vẹn, thống nhất.
a. Quan hệ nội bộ của đối tượng: diễn biến, cung bậc tâm trạng của Thúy Kiều.
Quan hệ giữa đối tượng này với đối tượng khác có liên quan: bài thơ Lời kỹ nữ của Xuân Diệu với bài Tì bà hành của Bạch Cư Dị.
- Từ ngữ giàu hình ảnh và cảm xúc: văng vẳng, trơ, cái hồng nhan, xiên ngang, đâm toạc, tí, con con...
- Sự kết hợp giữa hững động từ mạnh (xiên, đâm) với các bổ ngữ độc đáo (ngang, toạc) làm nổi bật sự bướng bỉnh và ngang ngạnh.
- Nghệ thuật đảo trật tự cú pháp trong hai câu luận:
- Nghệ thuật sử dụng sóng đôi các cặp từ trái nghĩa, góp phần biểu lộ trạng thái bế tắc: say - tỉnh, khuyết - tròn, đi - lại.
- Nghệ thuật lặp từ (lại, xuân) và phép tăng tiến (san sẻ - tí - con con)...