- Vũ Trọng Phụng (1912 - 1939) sinh tại Hà Nội, trong một gia đình nghèo.
- Ông quê ở làng Hảo (huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên).
- Sau khi tốt nghiệp tiểu học, Vũ Trọng Phụng đi làm kiếm sống nhưng chẳng được bao lâu thì mất việc. Từ đó, ông sống chật vật bằng nghề viết báo, viết văn chuyên nghiệp.
- Khoảng từ 1937 - 1938, ông mặc bệnh lao nhưng lại không có điều kiện để chữa chạy.
- Đến năm 1939, Vũ Trọng Phụng mất tại Hà Nội.
- Ông được mệnh danh là “ông vua phóng sự đất Bắc” với những tác phẩm như:
- Các tác phẩm của ông toát lên niềm căm phẫn mãnh liệt cái xã hội đen tối, thối nát đương thời.
- Đoạn trích thuộc chương XV của tiểu thuyết Số đỏ.
- Tiểu thuyết “Số đỏ” được đăng ở “Hà Nội báo” từ số 40 ngày 7 tháng 10 năm 1969 và in thành sách lần đầu năm 1938.
Sau ba ngày, cụ cố tổ chết thật. Cả bọn con cháu trong gia đình ấy vô cùng sung sướng. Mỗi người có một niềm vui riêng của mình. Đến gần một ngày rồi mà chưa phát phục. Đến khi Văn Minh hứa là sẽ tìm cách cho Tuyết lấy chồng một cách danh giá thì cụ cố Hồng mới cho phát phục. Bầy con cháu tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma...
Bảy giờ sáng hôm sau thì cất đám. Hai cảnh sát Min Đơ, Min Toa được thuê giữ trật tự cho đám. Tuyết mặc bộ đồ ngây thơ đi mời trầu. Đám ma theo cả lối Ta, Tàu, Tây. Có kiệu bát cống, có lợn quay đi lọng, có đến ba trăm câu đối, vài ba trăm người đi đưa. Có lốc bốc xoảng, bu dích và vòng hoa. Khi đám ma đi được bốn phố khi vợ chồng, bà Phó Đoan và mấy người nữa đang lào xào phê bình thái độ của Xuân thì bỗng có sáu chiếc xe, trên có sư chùa Bà Banh, xe nào cũng che hai lọng xuất hiện. Hai vòng hoa đồ sộ, một của báo Gõ Mõ, một của Xuân len vào hàng đầu. Cậu tú Tân vội bấm máy. Cụ bà chạy lên sung sướng vì ông Đốc Xuân đã không giận mà lại giúp đáp phúng viếng đến thế. Bọn quan khách thì cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau...
Lúc hạ huyệt, cậu tú Tân bắt bẻ từng người một để chụp ảnh. Ông Phán mọc sừng, khóc to “Hứt! Hứt! Hứt!” nhưng lại bí mật dúi vào tay Xuân cái giấy bạc năm đồng gấp tư. Xuân Tóc Đỏ nắm lấy rồi đi tìm cụ Tăng Phú đang lạc trong đám ba trăm người đương buồn rầu và đau đớn về những điều sơ suất của khổ chủ.
c. Bố cục
Gồm 3 phần:
- “Hạnh phúc”: Trạng thái thuộc về tinh thần, là niềm vui sướng khi con người đạt được những mong muốn, mục tiêu trong cuộc sống.
- “Tang gia”: Gia đình có người mất, sự việc khiến cho con người cảm thấy buồn bã, đau đớn.
⇒ Nhan đề “Hạnh phúc của một tang gia” gợi ra một mâu thuẫn mang tính trào phúng. Gia đình có người mất mà lại cảm thấy vui sướng. Chính mâu thuẫn này đã trở thành tình huống trào phúng của đoạn trích. Tiếng cười bi hài được tạo ra không chỉ phê phán một gia đình trong truyện, mà còn phê phán cả xã hội lố lăng, kệch cỡm đương thời.
- Cái chết của cụ cố tổ lại là niềm “hạnh phúc” của mọi thành viên trong gia đình cụ vì: Cụ cố tổ qua đời thì cái di chúc sẽ được thực hành, có nghĩa là con cháu trong gia đình sẽ được thừa kế gia sản.
- Niềm hạnh phúc khác nhau của các thành viên trong gia đình cụ cố Hồng và những người đến đưa đám ma do cái chết của cụ cố tổ đem lại.
- Niềm vui của những người ngoài gia đình:
a. Cảnh đưa tang
- Tả bao quát đám ma khi đang đi trên đường:
⇒ Một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không thì cũng phải gật gù cái đầu…
- Tả cận cảnh:
b. Cảnh hạ huyệt:
- Cậu Tú Tân bắt bẻ từng người một, hoặc chống gậy, hoặc gục đầu, hoặc còng lưng, hoặc lau mắt như thế này, như thế nọ... để cậu chụp ảnh kỷ niệm lúc hạ huyệt.
- Phán mọc sừng khóc to “Hứt!... Hứt!... Hứt!...” nhưng thực chất là dúi vào tay nó một cái giấy bạc năm đồng gấp tư.
⇒ Một màn hài kịch thể hiện sự lố lăng, vô cảm của lũ con cháu đại bất hiếu.
- Xã hội “thượng lưu” thành thị đương thời là một xã hội lố lăng, giá trị đạo đức đang dần bị băng hoại.
- Nhà văn có thái độ đả kích, châm biếm những thói xấu xa trong xã hội “thượng lưu” thành thị đương thời.
- Niềm vui chung của gia đình: cái chết của cụ cố tổ đem lại lợi ích cho tất cả các thành viên trong gia đình.
- Niềm vui riêng của từng thành viên:
- Niềm vui của những người ngoài gia đình:
* Cảnh đưa tang
- Tả bao quát đám ma khi đang đi trên đường:
⇒ Một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không thì cũng phải gật gù cái đầu…
- Tả cận cảnh:
* Cảnh hạ huyệt
- Cậu Tú Tân bắt bẻ từng người một, hoặc chống gậy, hoặc gục đầu, hoặc còng lưng, hoặc lau mắt như thế này, như thế nọ... để cậu chụp ảnh kỷ niệm lúc hạ huyệt.
- Phán mọc sừng khóc to “Hứt!... Hứt!... Hứt!...” nhưng thực chất là dúi vào tay nó một cái giấy bạc năm đồng gấp tư.
⇒ Một màn hài kịch thể hiện sự lố lăng, vô cảm của lũ con cháu đại bất hiếu.
- Nội dung: Đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia, Vũ Trọng Phụng đã phê phán mạnh mẽ bản chất giả dối, lối lăng và đồi bại của xã hội “thượng lưu” ở thành thị những năm trước Cách mạng.
- Nghệ thuật: nghệ thuật trào phúng, miêu tả tâm lí nhân vật…
Hãy chỉ ra những mâu thuẫn và chân dung trào phúng trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”.
Gợi ý:
- Mâu thuẫn trào phúng: Một cái chết thật dẫn đến một đám ma giả (cái chết của cụ cố tổ dần đến một đám ma to tát nhưng thiếu đi tình người), một đám ma giả dẫn đến một hạnh phúc thật (đằng sau những gương mặt đau đớn, tiếng khóc tha thiết là những tính toán về vật chất, quyền lợi).
- Chân dung trào phúng: C ụ cố Hồng, vợ chồng Văn Minh, cô Tuyết, cậu Tú Tân, ông Phán mọc sừng, Xuân Tóc Đỏ. Bên cạnh đó là chân dung của những người ngoài gia đình (hai tên cảnh sát Min Đơ, Min Toa, bạn cụ cố Hồng...).