- Ngôn ngữ chung là cơ sở để mỗi cá nhân sản sinh ra những lời nói cụ thể của mình, đồng thời lĩnh hội được lời nói cá nhân của người khác.
- Lời nói cá nhân thực tế sinh động, hiện thực hóa những yếu tố chung, những quy tắc và phương thức chung của ngôn ngữ.
Tổng kết: Ngôn ngữ chung là cơ sở để sản sinh và lĩnh hội lời nói cá nhân. Ngược lại trong lời nói cá nhân vừa có phần biểu hiện của ngôn ngữ chung, vừa có những nét riêng. Hơn nữa cá nhân có thể sáng tạo, góp phần làm biến đổ và phát triển ngôn ngữ chung.
- Từ nách trong câu thơ “Nách tường bông liễu bay sang láng giềng”: chỉ phần giao nhau, tiếp giáp giữa hai bức tường.
- Nguyễn Du đã có sự sáng tạo: chuyển nghĩa của từ dùng để chỉ một vị trí trên cơ thể người, để chỉ vị trí trên cơ thể vật dựa trên phương thức ẩn dụ.
a. Ngán nỗi xuân (1) đi xuân (2) lại lại. (Hồ Xuân Hương)
b. Cảnh xuân đã bẻ cho người chuyên tay. (Nguyễn Du)
Cảnh xuân: nghĩa chuyển, chỉ vẻ đẹp của người con gái.
c. Chén quỳnh tương ăm ắp bầu xuân. (Nguyễn Khuyến)
Bầu xuân: nghĩa chuyển, chỉ men say của rượu.
d.
Mùa xuân (1) là Tết trồng cây
Làm cho đất nước càng ngày càng xuân (2).
(Hồ Chí Minh)
a.
Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa
(Huy Cận)
Mặt trời: dùng với nghĩa gốc - chỉ mặt trời của tự nhiên.
b.
Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
(Tố Hữu)
Mặt trời: dùng với nghĩa chuyển theo phương thức ẩn dụ - chỉ mặt trời của lí tưởng soi sáng cho người chiến sĩ cách mạng.
c.
Mặt trời của bắp thì nằm trên đồi
Mặt trời của mẹ em nằm trên lưng
(Nguyễn Khoa Điềm)
a.
b.
c.